
…chút tâm tình gởi quê hương mẹ của đứa con lưu lạc xứ người…
Nguyễn Quang Dung
Boston 29/04/2007
Có một câu nói của cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận trong quyển sách Đường Hy Vọng của ngài đọc một lần nhưng tôi còn nhớ mãi:
“ nhìn quá khứ để than vãn: vô ích.
nhìn quá khứ để kiêu căng: nguy hiểm.
nhìn quá khứ để rút kinh nghiệm cho hiện tại: khôn ngoan.”
Tôi muốn ghi lại đây những kỷ niệm về những chuỗi ngày đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc quê hương VN cũng như trong cuộc đời tôi dưới góc nhìn hạn hẹp của một học sinh ở lứa tuổi 17 cách đây 32 năm …
Kỳ nghỉ hè năm 1975 đến sớm hơn thường lệ vì tình hình chiến sự nóng bỏng lúc bấy giờ. Ngày lễ thánh Giuse 19/03/75, đệ tử viện Don Bosco Trạm Hành di tản học sinh khoảng 300 em không theo đường quốc lộ Đà Lạt – Bảo Lộc – Sài gòn vì đã bị cắt nên phải đi về hướng Nha Trang, đến Phan Rang đi thuyền cặp bến Vũng Tàu, sau đó đi xe đò về Thủ Đức. Lúc ấy tôi đang học lớp 10 tại Don Bosco Thủ Đức. Nhìn đám đàn em mệt mỏi dơ dáy sau một cuộc hành trình kinh hoàng chạy trốn cộng sản, tôi linh cảm một điều gì đó rất xấu đang chụp xuống quê hương đất nước mình.
Mấy ngày sau chúng tôi được nghe lệnh tổng động viên trên báo chí và đài phát thanh Sài Gòn kêu gọi tất cả các học sinh lứa tuổi17 nhập ngũ. Tôi rất hoang mang không vì sợ phải ra chiến trường cầm súng bắn giết nhưng lo lắng không biết tương lai đất nước sẽ đi về đâu. Hình ảnh những mái đầu xanh thơ ngây vô tội chít vành khăn tang khóc thương cha, những thiếu phụ trẻ ôm xác chồng trong quan tài phủ màu cờ vật vã khóc lóc thảm thiết đã cho tôi nhận ra bộ mặt tàn ác của chiến tranh, sự vô tình của lằn tên mũi đạn.
Tin Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng thất thủ kéo theo hàng triệu người lũ lượt di tản để giữ được hai chữ tự do đã khiến thày trò chúng tôi không còn tâm trí học tập nữa; cha giám đốc đệ tử viện Don Bosco Thủ Đức là cha Andrew Majcen đã quyết định bãi trường vào đầu tháng 4/75. Chúng tôi lặng lẽ từ giã cha thày, bạn bè và mái trường thân yêu trong sự buồn bã vì không biết bao giờ còn gặp lại.
Tình hình chiến sự ngày càng khốc liệt, cộng quân đánh chiếm hầu hết các tỉnh thành miền trung, cao nguyên trung phần. Ngày 21/04 Long Khánh thất thủ, dân chúng hoảng loạn kéo về Sài Gòn lánh nạn.
Đêm 22/04/75 tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức, trao quyền lại cho phó tổng thống Trần Văn Hương. Không đầy 48 tiếng đồng hồ sau, cụ Hương lại từ chức trao sinh mệnh đất nước cho đại tướng Dương Văn Minh.
11 giờ sáng ngày 30/04/75 Big Minh tuyên bố đầu hàng cộng sản. Tôi vẫn còn nhớ rõ buổi sáng hôm ấy trời Sài Gòn u ám như đồng cảm với dân tộc Việt về một tương lai đen tối; cả thành phố mệt mỏi sau một đêm kinh hoàng không ngủ bởi những tiếng súng đạn của hai bên, tiếng máy bay gầm rú trên bầu trời đêm…
Những ngày tháng kế tiếp tôi sống trong tâm trạng chán chường vì lý tưởng tu trì ôm ấp bao năm coi như vỡ mộng. Một thực tế phũ phàng chua xót xảy ra ngay sau ngày “thống nhất đất nước” khi các sĩ quan VNCH bị gọi đi học tập cải tạo không có ngày về; vụ đổi tiền lần đầu tiên của nhà nước nhằm san bằng giai cấp giàu nghèo đã làm cho biết bao gia đình khốn đốn. Những của cải đáng giá trong nhà lần lượt ra chợ trời đứng chào hàng để đổi lấy những nhu yếu phẩm như gạo mắm, lương thực hàng ngày.
Ba má tôi được ai đó nhắn nếu tôi muốn tiếp tục tu thì trở lại nhà dòng ngay. Bước vào cổng trường Don Bosco Thủ Đức sau 3 tháng xa cách, tôi không còn tin vào mắt mình nữa. Sân banh cạnh cổng ra vào đã bị cày xới trồng khoai mì. Dãy nhà cơm, hội trường, khu nhà ngủ treo la liệt quần áo bộ đội, đồ phụ nữ… Hỏi ra tôi được biết Nông Hội Thành và Đoàn Thanh Niên Cộng Sản đã mượn một nửa nhà dòng để làm trường huấn luyện….
Lớp chúng tôi có17 người trở lại nhà dòng: Ngọc Anh, Ngọc Tri, Ngọc Dũng, Bá Lâm, Bá Khanh, Quốc Phong, Thanh Lưu, Phú Thành, Đỗ Đức, Quang Dung, Công Minh, CÔng Thành, Phạm Nam, Phạm Quân, Đức Thịnh, Kim Sơn và Trần Bình.
Lớp trên và lớp dưới cũng có số người trở lại nhà dòng tương đương hơn kém. Hộ khẩu nhà dòng lúc ấy khoảng 60 người gồm tất cả cha thày và học sinh dưới sự hướng dẫn của cha giám đốc Fabiano Lê Văn Hào.
Cả lớp chúng tôi được đưa lên giáo xứ Phú Sơn – Đồng Nai làm rẫy. Khu vườn rộng khoảng 2 mẫu tây trồng toàn na và xoài đã tới mùa thu hoạch. Chúng tôi bắt đầu lao động chân tay theo phương châm của đảng và nhà nước: “lao động là vinh quang, lang thang là chết đói con ạ”.
Ban ngày chúng tôi rẫy cỏ, vun gốc cho cây ăn trái; xen kẽ giữa các gốc cây chúng tôi trồng đủ loại hoa màu phụ như đậu xanh, đậu phộng, mía. Vui nhất vào mỗi buổi sáng, mỗi đứa cầm một cái cuốc chọn một gốc cây rồi đào lỗ ngồi phóng uế, mắt láo liên tìm những trái na, trái xoài ương sắp chín hoặc tỉnh bơ đọc báo như người Hà Nội; buổi chiều ra giếng kín nước tắm chung lộ thiên vui ơi là vui. Xa cách thành phố, thiếu ánh sáng văn minh nên mỗi lần nghe tiếng xe lửa hú còi từ đàng xa, chúng tôi không ai bảo ai đều đồng loạt đứng bỏ cuốc ngóng chờ xe lửa đi qua, mặc dù đường rầy xe lửa cách xa nhà hàng nửa cây số…
Sau đó chúng tôi trở lại Don Bosco Thủ Đức để kịp ngày khai giảng niên học mới. Nhà dòng không được phép mở trường dạy học nữa nên chúng tôi đi học trường nhà nước. Mỗi buổi sáng từng tốp hơn chục đứa đi bộ ra trường Nguyễn Hữu Huân Thủ Đức. Cái mác thày tu trông ngố ngố, ăn mặc lịch sự gọn gàng, gặp gái e lệ thẹn thùng…đã làm lũ chúng tôi trở thành một hiện tượng nổi trong trường; chúng bạn cùng lớp gọi đùa là nhóm“Đồng Nai Bột Sắn Công Ty”(DON BOSCO). Đi học về, buổi chiều cả nhà leo lên chiếc xe vận tải, kẻ đứng người ngồi bệt ngay trên sàn xe ngủ gà ngủ gật mặc cho xe chạy lắc lư hướng về phía Cát Lái để làm ruộng lúa. Xe chạy khoảng 30 phút đủ cho một giấc ngủ trưa ngắn; tới nơi cả lũ khoảng 40 ( trừ một số đi học buổi chiều ) nhà nông bất đắc dĩ cũng cấy lúa, đạp cỏ, gặt lúa không thua gì ai. Khi bóng chiều đã xế, chúng tôi kéo nhau ra sông tắm. Ngụp lặn bơi lội trong nước, giòng nước trong xanh mát lạnh đã cuốn trôi đi hết những mệt nhọc và cả những ưu tư về một tương lai vô định trước mắt. Lên xe trở về nhà dòng trong bộ quần áo ướt như chuột lột. Một vài thằng quỷ nghịch ngợm đã chỉ chỏ những anh chàng “cai dù” để cụ hồ hiện hình lộ liễu sau lớp vải quần đùi ướt mỏng dính vì thời buổi thiếu thốn lúc ấy không có underwear để mặc.
Lớp chúng tôi học hai năm ở trường Nguyễn Hữu Huân, thời gian tuy ngắn nhưng vẫn còn lưu lại trong tôi những kỷ niệm đẹp khó quên. Nhóm theo học ban B văn chương gồm: Ngọc Anh, Quang Dung, Bá Khanh, Bá Lâm, Thanh lưu, Ngọc Tri, Phạm Nam, Phạm Quân, Kim Sơn, Đức Thịnh. Nhóm học ban C toán gồm: Quốc phong, Công Minh, Ngọc Dũng, Đỗ Đức, Trần Bình, Phú Thành, Công Thành.
Các anh chàng ban C Phú Thành, Quốc Phong, Trần Bình… thường lảng vảng trước cửa sổ lớp B lấy cớ chờ bạn hoặc mượn sách nhưng thực sự để nghía các em hoa khôi ban C.
Các em gái ban C cũng không vừa, ngầm chia nhau các anh thầy tu như em Yến răng khểnh với Ngọc Anh, em Liên mụn với Thanh Lưu, em Chi sún với Bá Lâm, em Ngộ với Ngọc Tri…
Bữa hôm ấy thày giáo quản nhiệm cho cả lớp nghỉ một tiết học để tập dợt văn nghệ mừng ngày Hiến Chương các Nhà Giáo. Trong một góc lớp, nhỏ Ngọc Sương đang dợt hát đơn ca với một bạn trai cùng lớp đệm đàn guitar. Tôi giả vờ “ngu ngơ huởng thái bình” ngồi một góc xa xa đọc sách để khỏi bị mời tham gia vào các tiết mục văn nghệ. Tôi rất dị ứng với những bài hát cách mạng, nhưng giọng ca êm dịu ngọt ngào của Ngọc Sương với tiết tấu khá trữ tình bài ca “Lên Ngàn” đã làm tôi nhiều lúc quên đi những hàng chữ trước mắt. Bỗng một giọng nói êm nhẹ rót vào tai tôi:
_ anh Dung à, nhờ anh tập giúp em bài hát này nhá…
Máu văn nghệ nổi lên, tôi gật đầu mỉm cười theo Ngọc Sương ra góc tập văn nghệ. Hai đứa ngồi sát, chụm đầu coi chung bài hát. Khả năng âm nhạc của tôi không đến nỗi nào, đủ giúp Ngọc Sương diễn tả bài hát khá thành công. Tôi vẫn còn nhớ khi em hát câu:”…em đi thăm lúa trên ngàn, lúa trên ngàn….”, đôi mắt em long lanh như hạt sương trên lá nhìn tôi như muốn nói điều gì khiến tôi bối rối phải nhìn đi nơi khác; tôi như con nai tơ mới đụng trận lần đầu nên không dám chịu đèn…
Ngày 24/01/1978 lễ thánh Francis Salesio, nhà dòng tổ chức mừng 25 năm Don Bosco VN. Rất nhiều quan khách đạo đời, nhà nước tới tham dự. Có phòng triển lãm tranh ảnh về các công cuộc truyền giáo của Salesien Don Bosco trong suốt 25 năm đầu tiên tại VN.
Đêm đó đang ngủ ngon giấc, chúng tôi bị gọi dựng dậy vào lúc nửa đêm bởi những anh chàng công an tay lăm le súng, mặt hằm hằm sát khí quát tháo ầm ĩ:
_ các đồng chí thức dậy, đi hàng một xuống sân tập họp.
Tất cả thày trò im lặng tụ tập dưới sân basket giữa nhà thờ và lớp học cũ.
_ tất cả các đồng chí ngồi yên lặng trồng cây cao su.
Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau chẳng hiểu gì; lại tiếng quát tháo giọng bắc kỳ đặc vang lên:
_ ĐM học trò mà dốt thế. Ngồi trồng cây cao su là ngồi thẳng hàng như vườn cây cao su thẳng tắp đấy…
Sau này chúng tôi được biết việc mất nhà dòng do bọn cộng sản chụp mũ tội phản động để lấy cớ tịch thu nhà dòng. Trong tháng 1/1978 năm nhà dòng lớn ở Thủ Đức bị tịch thu: dòng Đa Minh, dòng Chúa Cứu Thế, dòng Lasan Mossard, dòng Phước Sơn và dòng Don Bosco. Trở lại vụ việc dòng Don Bosco, chiều ngày 24/01/1978 một cha là cựu học sinh Don Bosco đi chung với một cha già và một người dân thường khác ghé thăm cha Hào và xin ngủ lại qua đêm. Đêm đó công an vào xét hộ khẩu, bắt quả tang trong vali của 3 người khách chứa những tài liệu phản động chống phá nhà nước. Khi vụ án khép lại, chúng tôi mới biết 2 cha khách đó đã bị bắt ở miệt Vĩnh Long mấy tháng trước về tội chống phá cách mạng; còn ông khách mặc thường dân là công an giả dạng đi kèm buộc hai cha phải thực hiện những mưu đồ của bọn chúng.
Sau đêm đó, cha Hào giám đốc bị đem đi tù; những ai không có hộ khẩu thường trú gồm một số thày ở Đà Lạt chuyển về Thủ Đức sau tháng 4/75 và lớp học sinh đàn em buộc phải trở về gia đình. Lớp chúng tôi và lớp đàn anh có hộ khẩu thường trú trước 1975 nên không bị hồi tục. Tịch thu nhà dòng, bọn cộng sản cho phép chúng tôi đi về các giáo xứ nhỏ tiếp tục sống tu.
Quốc Phong và Bá Lâm về giáo xứ Bến Cát – Gò Vấp giúp cha Huỳnh.
Bá Khanh, Công Minh, Ngọc Tri, Đức Thịnh,Quang Dung, Phạm Nam và Trần Bình về Tam Hải, khu nhà nuôi trẻ bụi đời trước 1975 của cha Độ SDB tiếp tục năm nhà tập dở dang. Ngày 08/12/1978 lớp chúng tôi khấn dòng lần đầu nhưng vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên chúng tôi là những thày tu không mặc áo dòng.
Sau khi khấn dòng, lớp chúng tôi lại chia năm xẻ bẩy đi giúp các giáo xứ.
Công Minh, Đức Thịnh đi giúp giáo xứ Cầu Bông – Hốc Môn.
Bá Khanh, Ngọc Tri đi giúp giáo xứ Hốc Môn.
Trần Bình, Phạm Nam, Quang Dung đi giúp giáo xứ Xuân Hiệp – Thủ Đức.
Ở Xuân Hiệp được hơn một năm tôi bị gọi đi bộ đội thi hành nghĩa vụ quân sự. Để tránh cho nhà dòng khỏi bị liên lụy, tôi lên quân trường Thị Vải – Bà Rịa rồi trốn nghĩa vụ về nhà tìm đường vượt biên. Trong đầu óc tôi đã có viên sạn phản động ngay từ lúc còn đi học trường Nguyễn Hữu Huân. Mỗi khi học môn chính trị, tôi thường rủ Kim Sơn, Bá Khanh trốn học đi lang thang. Mỗi lần nhà trường tổ chức trồng cây nhớ bác, tôi luôn phá hoại bằng cách làm cho đứt hết rễ trước khi bỏ cây xuống lỗ lấp đất…
Ba mươi hai năm trôi qua, nếu không có biến cố lịch sử ấy thì….Biến cố ấy đã tạo nên những ngã rẽ cuộc đời mà một số anh em có số phận may mắn hơn tám chục triện người khác đã được định cư ở những đất nước tự do, còn đa số vẫn ở lại trong nước cùng đồng hành số phận với dân tộc quê hương.
Lớp chvsdb70 có những nhân vật nổi tiếng như Phong mù, nổi danh như bás sĩ Thắng, bác sĩ Thái, kiến trúc sư Dương Bình Soạn; thành công trong lãnh vực kinh doanh như Thanh Hà, Phạm Nam, Cao Thái, Trần Huy…; thành công trong ngành công nghệ thông tin như Trọng Khanh, Đào Dậu, Anh Tuấn, Đỗ Đức….; trở thành hiền triết như thày chùa và cha Định; có cả những nhân vật tai tiếng như Già điên, Dê xồm, Lựu đạn…
Chỉ cần một thời gian phần tư thế kỷ thời hậu chiến mà nước Nhật, Nam Hàn đã trở thành những con rồng Á châu dám cạnh tranh cả với anh khổng lồ Mỹ quốc. Việt Nam ta 32 năm sau chiến tranh vẫn nằm trong danh sách những nước nghèo nhất thế giới. Câu hỏi tại sao đã làm nhức nhối những con tim yêu nước có lòng tự trong dân tộc. Phải chăng vì người ta không thực lòng yêu tổ quốc, yêu quê hương. Người người góp sức xây dựng đất nước nhưng bọn tham tàn đục khoét, phá hoại quê hương không thương tiếc nên đất nước mãi không sao chỗi dậy được!
Sau hơn 30 năm tan đàn xẻ nghé, lớp chvsdb70 đã nối lại được sợi dây liên lạc trong và ngoài nước. Hai sợi dây nối kết là skype cuối tuần và diễn đàn đấu láo email hàng ngày. Mong anh em cố gắng duy trì, đừng đứt một sợi dây liên hệ nào để chút ấm áp TÌNH BẠN hâm nóng lại nhiệt huyết tuổi trẻ yêu đời tưởng đã theo tuổi già tàn phai cùng năm tháng.