Saturday, March 8, 2008

NỢ ĐỜI


... một đêm thao thức
Boston 21/04/2007
Nguyễn quang Dung

Thời tiết Boston năm nay đỏng đảnh như một cô gái hay dỗi hờn lúc nắng lúc mưa. Gần cuối tháng tư nhưng vạn vật vẫn còn ngái ngủ trong giấc ngủ đông. Cây cối trơ trụi cành, những đợt gió lạnh vẫn không ngừng thổi, những trang phục mùa xuân vẫn còn lười biếng nằm trong góc tủ… Thế rồi nàng Xuân bất ngờ đến. Cả bầu trời Boston chan hòa nắng xuân. Các cô gái không hò mà hẹn khoác lên mình những bộ cánh thời trang mùa xuân thật dịu dàng thướt tha dạo phố hoặc tản bộ trong công viên tắm nắng ấm mùa xuân, hoặc ngồi lặng nghe vạn vật chuyển mình thức giấc sau một giấc ngủ đông dài.
Nàng Xuân trở lại đúng vào ngày cuối tuần 21/4/07, trùng với ngày Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Vùng Đông Bắc Hoa-Kỳ tổ chức cuộc đi bộ RACE FOR RIGHTS ủng hộ cho tổ chức chống tệ nạn buôn người ở Việt Nam.
Cuộc đi bộ được tổ chức trong khuôn viên trường Đại Học Boston College. Hơn 100 sinh viên tham dự, đa số là các em sinh viên Việt Nam được sinh ra và lớn lên trên đất nước tự do Hoa-Kỳ; người ta cũng thấy một vài sinh viên Mỹ bản xứ trong nhóm đi bộ và nhiều cô chú bác đồng hương Việt Nam lớn tuổi cùng tham gia.
Buổi chiều cùng ngày tại hội trường giáo xứ St. Ambrose, Boston có buổi nói chuyện của cha Phêrô Nguyễn Văn Hùng về tệ nạn buôn người này. Cha Hùng là giám đốc tổ chức phi chính phủ mang tên gọi: VĂN PHÒNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CÔNG NHÂN VÀ CÔ DÂU VIỆT NAM tại ĐÀI LOAN.
Tôi đã được biết khá nhiều thông tin qua các phương tiện truyền thông về tệ nạn buôn người này, nhưng khi được xem một slide show về thực trạng của các cô dâu và công nhân Việt Nam trên đất Đài Loan mới biết sự kiện vô cùng bi đát đến nỗi không cầm được nước mắt khi thấy những mảnh đời thơ ngây vô tội của các cô gái quê Việt Nam bị đày đọa nơi xứ người, bị chà đạp nhân phẩm một cách dã man không thương tiếc.
Một thiếu nữ chống cự lại hành vi hiếp dâm của ông chủ bị ngã gẫy xương cổ, một cô gái khác nằm hôn mê trong bệnh viện vì chống lại sự sàm sỡ của lão chủ, những gương mặt ngây thơ xinh đẹp nhưng đôi mắt bị đánh bầm tím, những bàn tay thon thả ngọc ngà bị tàn phá do tai nạn lao động nhưng không hề được bồi thường, không được bênh đỡ vì bị chèn ép, vì bất đồng ngôn ngữ, vì thiếu hiểu biết về luật pháp.
Theo lời cha Hùng kể, hiện có khoảng 100,000 cô dâu và 80,000 công nhân lao động người Việt tại Đài Loan.
Qua các dịch vụ mai mối, các chàng trai Đài Loan đa số là những người có trình độ văn hóa thấp, vô nghề nghiệp, có vấn đề về thể lý hoặc tâm lý không thể cưới vợ Đài Loan. Họ chi khoảng 8,000 USD (thời điểm năm 2001), bây giờ khoảng 6,000 USD cho mọi chi phí để cưới một cô dâu Việt Nam.
Nhiều cô dâu ban ngày phải làm việc cực nhọc như một người ở đợ, ban đêm làm nô lệ tình dục cho cả gia đình. Bị ngược đãi, bị chà đạp nhân phẩm quá sức chịu đựng, nhiều cô gái đã bỏ trốn nhưng lại sa vào tay bọn buôn người khác, rồi lại bị bán như một món hàng hóa hoặc bị rơi vào ổ đĩ điếm…
Cha Hùng kể, có lần cha đi đến một làng quê hẻo lánh trên miền núi, nhà nào cha đến thăm cũng gặp cô dâu Việt Nam và ai cũng bụng mang dạ chửa…
Tình trạng công nhân Việt trên đất Đài Loan cũng bị đối sử tàn tệ không kém. Trước khi rời Việt Nam họ phải trả cho công ty môi giới từ 1,000 – 1,500 USD. Khi bước lên máy bay họ lại phải ký một giấy nợ khống khoảng 5,000 USA hoặc 6,000 USD mà thực tế trong tay họ không hề được cầm một đồng xu nào.
Có rất nhiều trường hợp phải làm những công việc khác với hợp đồng đã ký như ở đợ hoặc bị bóc lột sức lao động quá mức; nhiều trường hợp công nhân nữ ban đêm còn bị hiếp dâm tập thể nên họ tìm cách bỏ trốn nhưng rồi lại bị lừa vào cái vòng luẩn quẩn mua bán của bọn buôn người.
Cha Hùng kể, có một thanh niên nhất quyết không chịu làm công việc không đúng với hợp đồng đã ký kết nên bị nhốt trong một nhà cao tầng. Anh đã tìm cách trốn bằng cách leo qua cửa sổ, bị rớt xuống đất chết thê thảm.
Cha Hùng thường xuyên nhận được những cú điện thoại cầu cứu của các cô gái bị áp bức. Cha đã tìm cách giúp đỡ, giải cứu họ tức thời khi có thể. Cha đã cố vấn pháp luật, xin luật sư bào chữa ở toà án được hơn 3,000 vụ việc.
Một buổi tối cha nhận được một cú điện thoại cầu cứu:
- cha ơi… cứu con….
- con đang ở đâu ?
- con cũng không biết con đang ở đâu nữa…
- con bị sao ?
- đêm nào bọn họ cũng đến hiếp dâm con…; con sợ quá cha ơi, họ sắp đến rồi…
- nếu cha không biết nơi ở của con thì cha không thể đến cứu con được. Nghe cha dặn, nếu họ đến hành hạ con, con phải tìm mọi cách để lại một vài dấu vết trên thân thể họ để làm tang chứng sau này. Điều quan trọng là con phải tìm cách thoát ra khỏi nhà càng sớm càng tốt, đón một chiếc taxi yêu cầu họ chở tới văn phòng của cha…
Đêm đó cha Hùng thức trắng đêm chờ đợi; đến gần sáng cô gái đã tìm đến được văn phòng của cha trong tình trạng suy sụp tinh thần thê thảm. Sau một ngày tĩnh dưỡng, chiều tối cha chuyển cô gái đáng thương ấy đến khu phòng ngủ dành cho các nạn nhân của văn phòng, bỗng cô gái hét lên, khóc lóc thảm thiết:
“đừng đụng vào người tôi, đừng đụng vào người tôi…”
Mỗi khi màn đêm buông xuống, những ấn tượng khủng khiếp của những lần bị hiếp dâm tập thể khi bóng đêm phủ kín đã làm cô gái sợ hãi la hét kêu gào mà theo như cha Hùng kể trong đời cha chưa từng nghe thấy những tiếng khóc lóc thê thảm như vậy.
Tệ nạn buôn người này ngày càng tồi tệ hơn do sự làm ngơ của chính quyền địa phương, do sự thỏa hiệp ngầm của bọn cầm quyền việt cộng với bọn buôn người, do sự tán tận lương tâm của bọn làm giàu bằng việc mua bán phụ nữ. Ngoài ra tính che đậy sự thật của các nạn nhân không dám cho gia đình bên quê nhà biết cũng đã góp phần đưa đẩy nhiều số phận của các cô gái quê ngây thơ vào vòng oan nghiệt.
Viết bài này tôi muốn ca ngợi các em sinh viên Việt Nam ở Boston đã làm một việc làm thật ý nghĩa giúp xoa dịu phần nào vết thương thể xác lẫn tinh thần các nạn nhân của tệ nạn buôn người. Các em đã gây quỹ cho tổ chức của cha Hùng được 7,000 USD từ cuộc đi bộ RACE FOR RIGTHS và 3,500 USD trong buổi nói chuyện tại nhà thờ St. Ambose, Boston. Nhưng quan trọng hơn, các em đã gởi một thông điệp cho toàn thế giới báo động về một tệ nạn buôn người đã biến thái ở thế kỷ XXI này.
Đêm hôm ấy tôi nằm trằn trọc không sao chợp mắt được. Câu chuyện người thanh niên trèo cửa sổ chạy trốn sự kiềm kẹp của chủ bị rớt xuống đất chết thảm được nối tiếp với những hình ảnh người mẹ già ra phi trường đón xác con. Thay vì những bó hoa tươi thắm là vành khăn tang trắng, thay vì những nụ hôn là giòng nước mắt, thay vì được ôm con trong vòng tay ấm áp lại là chiếc quan tài gỗ giá lạnh…. Hình ảnh tương phản của các cô gái xinh tươi tung tăng trong nắng xuân nơi công viên sáng nay với hình ảnh cô gái khóc nức nở van nài thảm thiết “đừng đụng vào người tôi…” đã cho tôi một suy nghĩ: Tôi mang nợ đời rất nhiều.
Biết bao người đau khổ để tôi được hạnh phúc; biết bao người bất hạnh tàn tật để tôi được lành lặn; biết bao người khóc để dành cho tôi nụ cười, biết bao người đói nghèo để dành cho tôi cơm no áo ấm; biết bao người bị áp bức bắt bớ để dành cho tôi hai chữ tự do; biết bao người bị bịt miệng không được nói lên sự thật để dành cho tôi quyền tự do phát biểu cho chân lý. Không biết đến khi nào tôi mới trả xong những món nợ đời này?

Mời quý vị thăm gia trang http://www.taiwanact.com/ của VĂN PHÒNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CÔNG NHÂN VÀ CÔ DÂU VIỆT NAM tại ĐÀI LOAN để biết thêm nhiều thông tin về tổ chức Liên Minh Chống Tệ Trạng Buôn Người tại Đài Loan.

Thursday, March 6, 2008

BÔNG HỒNG TẶNG CÁC NGƯỜI MẸ NHÂN NGÀY HIỀN MẪU



Nguyễn Quang Dung
Mother’s Day
Boston 13/05/2007


Nhìn tấm hình Phong mù trong áo trạng nguyên ngày tốt nghiệp Cử Nhân Đại Học ngành Xã Hội Học làm tôi liên tưởng đến câu danh ngôn: “… trong bất cứ sự thành công nào của người đàn ông đều có bóng dáng người phụ nữ đứng đàng sau.”. Trong trường hợp Phong mù, người phụ nữ đứng đàng sau không phải là bóng dáng người vợ, người tình nhưng là chính người mẹ hiền của Phong mù.
Tôi được biết mẹ của Phong hơn ba chục năm nay. Sau 1975 khi còn tiếp tục tu học tại Don Bosco Thủ Đức, mỗi tháng chúng tôi được phép về thăm gia đình một ngày cuối tuần. Phong thường hay rủ bạn bè về nhà chơi, rồi cả bọn đi lang thang ngắm cảnh đường phố Sài Gòn (lúc ấy chưa biết nếm mùi ăn chơi!) hoặc đi xem phim… Mỗi lần đến nhà Phong, mẹ Phong chăm chút cho chúng tôi từ miếng ăn đến chiếc chiếu mùng mền để ngủ như chăm sóc cho đám con mình vậy. Bà thường ngồi vui vẻ hỏi han, trò chuyện với chúng tôi…
Tính yêu trẻ, trầm tĩnh, lạc quan yêu đời của mẹ đã hình thành nên tính cách cũng như nhân sinh quan của thày Phong mù bây giờ.
Người chồng tử trận năm 1964 khi bà mới ba mươi tám tuổi, một mình nuôi dạy 7 đứa con trai, đứa nhỏ nhất mới chập chững biết đi. Bao gánh nặng, sóng gió cuộc đời đã đổ xuống trên đôi vai mảnh mai bé nhỏ của bà nhưng bà vẫn lạc quan tin tưởng vào cuộc sống. Bà là một người phụ nữ Việt Nam mẫu mực, suốt cả cuộc đời chỉ nghĩ đến hạnh phúc của chồng con. Cho đến lúc này ở tuổi 80, bà vẫn giành việc bếp núc để ba nàng dâu có thời giờ đi làm việc kiếm sống và chăm sóc con cái.
Những buổi cơm tối xum vầy14 người vừa con vừa cháu (kể cả Phong mù) là niềm hạnh phúc của riêng bà. Những con chim đã đủ lông đủ cánh nhưng vẫn không chịu rời xa mẹ, lập những tổ ấm nhỏ quanh nhà mẹ để được quanh quẩn bên mẹ mãi đã vẽ lên bức tranh tuyệt vời về Tình Mẹ Con.
Năm 1991 khi Phong bị tai nạn , một mình mẹ chăm sóc trong bệnh viện suốt tám tháng trời. Ngày đầu tiên khi đến bệnh viện thăm Phong, trông bà già hẳn đi sau một đêm thức trắng. Không khóc lóc, không than thân trách phận, bà lặng lẽ săn sóc Phong như chăm sóc một bé sơ sinh vì tai nạn đã cướp đi thị giác quý báu của Phong… Những lần sau đến thăm Phong tại bệnh viện hoặc ở nhà, tôi lại tìm thấy sự lạc quan tin tưởng nơi giọng nói, cách trò chuyện của bà. Từ ngày ấy bà gọi Phong bằng một cái tên rất đáng yêu là “ông mù” thay cho cái tên cúng cơm phong ba bão tố.
Mái Ấm Thiên Ân ra đời cũng có phần đóng góp tài chánh không nhỏ của mẹ Phong mù, đặc biệt là sự khích lệ Phong dấn thân vào công việc xã hội này.
Có những buổi trưa trời Sài Gòn nắng như đổ lửa, Phong mù gọi xe ôm hoặc xích lô đi tới trường, một tay khua gậy, một tay ôm máy đánh chữ Braille khiến lòng mẹ xót xa, thỉnh thoảng bà mắng yêu Phong: “… học cho lắm cũng chỉ là ông mù thôi !!!”
Dịp Noel năm rồi tôi có dịp ghé thăm bà; ở tuổi 80 thất thập cổ lai hy nhưng bà vẫn còn nhanh nhẹn, sáng suốt. Bà vẫn giữ được nét vui vẻ, lạc quan mặc dù mái tóc đã nhuộm trắng màu thời gian. Bà kể: “ông mù” tháng nào cũng ghé về nhà thăm mẹ, hàng tuần gọi điện thoại hỏi han, chuyện trò với mẹ… “Như mặt trời chỉ có một mà thôi và mẹ em chỉ có một trên đời!”. Người mẹ chính là mặt trời sưởi ấm soi sáng những khúc quanh ngã rẻ âm u của cuộc đời ta.
Phong mù mồ côi cha từ khi 6 tuổi, những ký ức về người cha kính yêu không nhiều. Phong rất hãnh diện về người cha đã từng là cận vệ cho cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Ngày chính biến 02/11/1963, ông được lệnh bí mật đưa hai người con của ông bà Ngô Đình Nhu lên Đà Lạt lánh nạn. Khi trở về Sài Gòn mới biết tin Tổng thống Diệm đã bị thảm sát. Sau đó đội ngũ cận vệ cố tổng thống bị giải tán, ba Phong chuyển sang binh chủng Nhảy Dù xung vào đội quân thiên thần mũ đỏ. Đúng một năm sau ông tử trận tại chiến khu D ngày 21 tháng 11 năm 1964.
Phong còn nhớ những ngày thơ bé, tất cả các anh em đều được gởi học nội trú trường Lasan Tabert, cuối tuần được ba đưa xe Jeep đến tận trường đón về… Tối thứ bẩy nào cũng có thi tuyển lựa ca sĩ gia đình, Phong luôn qua mặt các anh giành phần thưởng của ba. Thừa hưởng gene âm nhạc, thể thao và sự thông minh của cha cộng với lòng yêu trẻ, trầm tĩnh, lạc quan yêu đời của mẹ đã giúp Phong mù giáo dục thành công các em khiếm thị ở MATA.
Cuộc đời là “một chữ ngờ” và cũng kỳ diệu không ngờ. “Khi một cánh cửa cuộc đời bị khép lại thì lại có một cánh cửa khác mở ra….”, nhưng dù cánh cửa cuộc đời khép hay mở, đàng sau cánh cửa ấy luôn có bóng dáng người mẹ hiền âu yếm chờ đợi dẫn dắt che chở vỗ về ta trong suốt cuộc đời.

SÂN GA CHIỀU




Một chiều cuối năm Đinh-Hợi
06/02/2008
Hoa Tuyết Boston

Đời người biết mấy sân ga
Bến khởi… bến tận… bến nào dừng chân?
Sân ga tuổi thơ trắng ngần
Đẹp màu giấy trắng thơ ngây học trò
Ga nào ga đợi ga chờ
Bến thương bến nhớ tương tư một người
Bến đời hạnh phúc sánh đôi
Dìu nhau đi tới cuối trời yêu thương
Gặp nhau bạn cũ… giữa đường
Sân ga chiều vắng ấm lòng cố nhân
Dừng chân liên kết tình thân
Cố nhân đâu dễ tương giao mấy lần
Anh em kết dải đồng tâm!

TIẾNG CHIM GOI ĐÀN



Lễ thánh Don Bosco
31/01/2008
Hoa Tuyết Boston


Trạm Hành vẫn xanh những đồi thông
Gió vẫn vi vu nắng vẫn hồng
Mình ta giữa hoang tàn đổ nát
Ngậm ngùi đau xót người thấu chăng!

Lớp học đâu… phấn trắng bảng đen
Bạn bè cắm cúi vui sách đèn
Bóng dáng cha thày sân trường cũ
Xa rồi tuổi thơ đẹp êm đềm.

Đời trải dài những cuộc bể dâu
Mái trường xưa nay đã đổi màu
Áo trắng học trò phủ gió bụi
Đàn chim mất tổ ngậm nhánh sầu.

Có nghe chăng tiếng chim gọi đàn
Tung cánh bay về kết tình thân
Bosco 70 nối vòng tay lớn
Xây tình người đắp lại giang san…




NGƯỜI THỔI TÙ VÀ HÀNG TỔNG


Mến tặng
Viết Đệ &Minh Trang
Kỷ niệm ngày thành hôn
21/02/2004_21/02/2008
Nguyễn Quang Dung
Boston 17/02/08


Tôi thường có thói quen gọi điện thoại thăm hỏi gia đình, bạn bè bên VN vào buổi sáng vì kim đồng hồ ở Boston luôn đi chậm hơn giờ VN đúng 12 tiếng vào mùa thu mùa đông hoặc13 tiếng vào mùa xuân mùa hè. Nếu gọi điện thoại vào lúc 9 giờ sáng Boston bên VN là 9 giờ tối, thời điểm thuận lợi để gặp gỡ mọi người.
Hôm ấy chờ chuông điện thoại reo một hồi lâu nhưng vẫn không thấy ai nhấc phôn. Một lát sau không phải là giọng buồn ngủ khàn khàn thường trả lời nhưng một giọng nữ êm ái ngọt ngào vang lên ở đầu dây bên kia:
_ a lô… dạ xin lỗi anh muốn gặp ai ạ…?
_ Trang hả, anh Dung đây. Đệ có nhà không em?
_ anh Dung ơi, anh Đệ nhà em đi lên nhà thày Phong rồi… Em mới đưa anh Đệ nhà em ra đường đón xe… vừa về tời nhà thì nghe điện thoại reng….
_ sao đi trễ quá vậy? 9 giờ tối ở bên đấy rồi phải không?
_ dạ… anh Phong gọi anh Đệ lên có chuyện gấp…. Anh Đệ nhà em chở hai mẹ con em ra quốc lộ đón xe để em đem xe về. Vội vàng quá nên anh Đệ nhà em cầm chìa khóa xe Honda leo lên xe đò đi luôn…
_ rồi sao em mở máy xe chạy về được?
_ anh Dung biết không, em phải dắt bộ tới tiệm sửa xe nhờ họ nổ máy… Lúc ấy trời đã tối, thợ đã thu dọn đồ nghề làm em phải năn nỉ mãi họ mới giúp…; trong túi em không mang một đồng xu nào nhưng có lẽ thấy em hiền lành chất phác nên họ đồng ý cho nợ hôm sau trả.
_ không ngờ Trang cũng dẻo miệng quá nhỉ?
_ chưa hết đâu anh, chạy ngang qua khu rừng cao su em sợ ma muốn chết luôn. Em bảo cu Lộc ngồi phía trước ôm chặt tay lái… rồi em phóng xe hết ga chạy bán sống bán chết về tới đây…

Vào những năm đầu thập niên 90, cuối tuần nào tôi cũng chạy xe Honda (motobike) từ Thủ Đức đi Long Khánh để chăm sóc vườn chôm chôm sầu riêng của gia đình nên tôi thường xuyên ghé thăm Viết Đệ. Đoạn đường Thủ Đức_Long Khánh dài 80 km, vừa chạy xe vừa ngắm cảnh ven đường, vừa thư giãn sau một tuần đứng lớp giảng bài hít bụi phấn… nên mất khoảng một tiếng đồng hồ. Từ ngã ba Dầu Giây đi về Long Khánh không còn bao xa. Qua đèo Mẹ Bồng Con tới khu vực Suối Tre rồi tới thị trấn Long Khánh. Đi hết khu vực thị tứ buôn bán sầm uất ồn ào là khu K-4, rẽ phải vô con đường đất đỏ dẫn vào khu vực Núi Hang Dơi ( nhà Đệ nằm trên con đường này, cách Quốc lộ khoảng hơn cây số). Lần đầu tiên Ngọc Đức dẫn tôi đến thăm Viết Đệ; đi hết khu rừng cao su có một con đường mòn rộng khoảng 2 mét, hai bên đường là hai dãy hàng rào bằng đá tảng được xếp chồng lên nhau cao khoảng nửa mét. Bên sau hàng rào là vườn cà phê, vườn tiêu xanh ươm màu lá xen lẫn những bụi chuối trổ buồng nặng trĩu. Những lần sau ghé thăm tôi vẫn không thể nào nhận ra khu đất nào của Viếr Đệ vì vườn nào cũng giống vườn nào, cây cối um tùm che khuất ngôi nhà nằm ở giữa vườn…
Long Khánh nổi tiếng là vùng đất đỏ miền đông canh tác cà phê, tiêu, sầu riêng, chôm chôm…Mùa nắng đất đỏ quện vào chân, bụi đất đỏ leo lên tay lên mặt lên quần áo; mùa mưa đất dẻo quẹo trơn trượt, đi lại rất khó khăn khiến đời sống người nông dân tại đây cũng thăng trầm té lên trượt xuống theo những vũng lầy cuộc đời…

Có lần vợ tôi nói chuyện trên skype với Minh Trang:
_ nhà của anh chị nằm giữa thiên nhiên vườn cây xanh lá… đúng là túp lều lý tưởng… chắc romantic lắm phải không?
_ nhưng em sợ ma lắm chị Linh ơi, mà anh Đệ nhà em thì đi tối ngày…
_ sao Trang không cột chân anh Đệ lại?
_ thày bảo”thày phải đi lo việc của cha thày…” nên em cũng chịu thua luôn.

Khi bước vào lãnh vực canh nông tôi mới biết nghề nông tuy không cần kiến thức nhiều nhưng cần kinh nghiệm, mà những kinh nghiệm này chỉ có thể học hỏi qua thực tế và nơi trường đời. Chân ướt chân ráo bước vào trông coi một vườn chôm chôm và sầu riêng rộng hai mẫu tây không dễ chút nào nhưng may mắn có Viết Đệ cố vấn. Đệ không trồng hai loại cây này nhưng quen biết nhiều chủ vườn nên đã dẫn tôi đi khắp vùng Long Khánh học hỏi kiến thức canh tác. Trái chôm chôm trông thật lạ mắt với những râu ria tua tủa nhưng khi chín có màu vàng màu đỏ thật quyến rũ và vị ngọt dịu của chôm chôm thì thật tuyệt vời. Để có được những chùm chôm chôm nặng trĩu cành chủ vườn phải chăm sóc sóc, tưới cây theo một chế độ khá đặc biệt. Tưới nước nhiều quá mầm sẽ bung thành lá, coi như mất trắng vụ mùa. Nước tưới vừa đủ mầm sẽ đâm hoa rồi kết trái. Một cây chôm chôm phải thu hoạch ba tạ trái chín mới đạt năng xuất. Hôm ấy Đệ dẫn tôi đi thăm hết vườn này tới vườn nọ; có ông chủ vườn kia đã tận dụng nguồn nước suối thiên nhiên chế tạo được hệ thống phát điện thắp sáng trong nhà. Câu chuyện thú vị giữa ba chúng tôi không muốn dứt cho đến khi trời nhá nhem tối. Về tới nhà Đệ, ngọn đèn dầu đã được chị Hoa, người chị cả bệnh hoạn của Đệ đã thắp lên từ lúc nào. (Đệ tình nguyện chăm sóc người chị suốt đời). Ngoài trời mưa rả rích, từng cơn gío lạnh thổi lùa vào căn nhà trống trơn nhưng sao tôi thấy thật ấm cúng vì tình bạn cũ đã sưởi ấm lòng chúng tôi. Chị Hoa dọn cơm tối cho hai chúng tôi vỏn vẹn nồi cơm nóng và đĩa cá khô kho nhưng hương vị của bữa cơm ấy vẫn còn mặn nồng mãi trong tôi cho đến tận bây giờ…

Chiều chủ nhật hôm ấy cả nhà ăn mặc chỉnh tề sửa soạn đi dự lễ thì chuông điện thoại reo:
_ a lô… Đệ hả. Tao, Trần Huy đây… mày cứu bồ tao với… tao chạy xe gây tai nạn…
_ mày đang ở đâu?
_ tao đã đưa nạn nhân vào bệnh viện Suối Tre. Mày đến gấp nha…
_ được rồi… yên chí… tao sẽ chạy đến ngay.
Đệ quyết định nhanh chóng đành bỏ dự lễ ngày Chủ Nhật theo gương người samaritano trong phúc âm đi cứu người trước đã. Nhớ lại hồi còn ở Trạm Hành, thày Đồng đã tập vở nhạc kịch người samaritano có Huy Thái, Quang dzẩu, Quang Già, Quang Dung…đặc biệt hề Xuân Phương đóng vai chủ quán trọ làm Đệ nhớ mãi.
Đến bệnh viện Suối Tre, được Trần Huy cho biết nạn nhân chỉ bị va quẹt nhẹ nhưng người nhà muốn làm to chuyện. Viết Đệ đã từng làm trọng tài bất đắc dĩ cho những vụ việc tương tự nên cuối cùng mọi sự đã được dàn xếp ổn thỏa giữa hai bên. Có lẽ nhờ tài ăn nói có tình có lý và nhất là Viết Đệ mang dáng dấp đạo mạo của một ông cán bộ nhà nước nên Trần Huy đã thoát được một bàn thua trông thấy.

Núi Hang Dơi cách nhà Viết Đệ khoảng hai cây số. Hàng triệu năm trước đây đã có những ngọn núi lửa hoạt động còn để lại nhiều hang miệng, bây giờ trở thành hang động cho loài dơi trú ngụ nên người ta gọi là Núi Hang Dơi chăng? Có lần Viết Đệ và Cao Thái đã trèo lên núi để được tận mắt nhìn những tàn tích của núi lửa… Núi lửa chỉ một lần hoạt động nhưng những nham thạch trào ra đã trở thành vùng đất đỏ phì nhiêu Long Khánh nuôi sống biết bao người dân cả đời chỉ biết bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Có lần Viết Đệ tâm sự: “…mình xin chọn nơi này làm quê hương!”
Quê hương của Viết Đệ là nước Việt thân yêu, là vùng đất Long Khánh đỏ tình người, là gia đình ba mẹ vợ con anh chị em ruột thịt, là bạn bè cũ chvsdb70. Chỉ một thời cùng ngồi chung với nhau trên ghế nhà trường Don Bosco Trạm Hành nhưng sao tình bạn ngây thơ ấy vẫn còn đẹp mãi trong lòng.



Đời người biết mấy sân ga
Bến khởi… bến tận… bến nào dừng chân?
Sân ga tuổi thơ trắng ngần
Đẹp màu giấy trắng thơ ngây học trò
Ga nào ga đợi ga chờ
Bến thương bến nhớ tương tư một người
Bến đời hạnh phúc sánh đôi
Dìu nhau đi tới cuối trời yêu thương
Gặp nhau bạn cũ… giữa đường
Sân ga chiều vắng ấm lòng cố nhân
Dừng chân liên kết tình thân
Cố nhân đâu dễ tương giao mấy lần
Anh em kết dải đồng tâm!