

Mến tặng Công Thành&Mỹ Hương
kỷ niệm hai mươi năm thành hôn 26/09/1987 _ 26/09/2007
Nguyễn Quang Dung Boston 20/09/2007
Thác Niagara nằm trên đường biên giới giữa hai nước Hoa kỳ và Gia nã Đại. Ngọn thác hùng vĩ này chỉ đứng sau thác Victoria Fall ở miền nam Châu Phi. Hàng năm Niagara Falls đã thu hút khoảng 12 triệu du khách đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên đã khoác lên mình nó. Thác chia thành hai nhánh, một nằm trên lãnh thổ Hoa Kỳ thuộc thành phố Buffalo, New York và nhánh kia nằm trên đất nước Gia Nã Đại, thuộc tỉnh Ontario. Từ công viên Prospect Point Park (USA) du khách có thể nhìn thấy nhánh thác Bridal Veil Falls nằm trên đất Hoa Kỳ có hình dáng trông giống như chiếc khăn voan cô dâu. Ngọn thác này rộng 1060 ft (323m), cao 176 ft (54m). Nhánh thác bên Gia Nã Đại mang tên Horse Shoe Falls vì mang hình dạng chiếc giày bịt gót chân ngựa. Dài 2600 ft (792m), cao 173 ft (53m). Du khách đứng nhìn từ Queen Victoria Park (Canada) không những được chiêm ngưỡng toàn cảnh vẻ đẹp của Niagara Falls mà còn được tận mắt nhìn thấy những điều kỳ diệu tiềm ẩn của thiên nhiên ở đây. Từ Boston lái xe khoảng bẩy giờ đồng hồ tới Niagara Falls, chạy qua biên giới nhắm thẳng Toronto, thủ đô Canada thêm một giờ và thêm mười lăm phút nữa sẽ tới nhà ông bạn láng giềng của tôi. Công Thành định cư ở Canada 28 năm về trước. Mùa thu năm ấy (9/1979) khi vừa đặt chân lên đất nước này Công Thành đã bị choáng ngợp ngay bởi cảnh sắc tuyệt vời ở đây. Cây cối đẹp như tranh vẽ cam vàng đỏ tía, từng cơn gió thu se lạnh thổi tung những chiếc lá vàng rơi lả tả hệt như trong cảnh phim Mùa Thu Lá Bay. Phải chăng thiên đường trần thế là đây? Những ngày đầu tiên trên vùng đất lạ quê người Công Thành được chào đón bởi “ba không”: không người Việt, không thực phẩm á đông và không có một quyển tự điển Anh-Việt trong tay. Một trong những khó khăn nhất trên bước đường hội nhập xã hội mới là rào cản bất đồng ngôn ngữ. Sáu người gồm bà chị cùng với hai cháu nhỏ và hai người em trai, chỉ mình Công Thành có chút vốn liếng sinh ngữ còn đọng lại từ những năm học trong trường dòng. Lúc này Thành mới thấy những bài học anh văn của cha Trang, cha Lạc, thày Sơn, thày Hinh, thày Tuấn… thật là hữu ích. Những khó khăn bước đầu rồi cũng qua đi, anh chị em Thành bắt đầu cuộc sống trên xứ người từ con số không bằng việc cắp sách đến trường học ESL. Suốt nhiều tháng trời từ khi đặt chân lên đất nước Canada, những thước phim hãi hùng về chặng đường vượt biển cứ quay đi quay lại trong những giấc mơ hàng đêm… Tháng 4/1979 Thành đang theo học trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, mẹ nhắn về nhà chuẩn bị cho một chuyến đi thật xa. Quá vội vàng và bất ngờ nên không kịp từ biệt ai kể cả anh chàng bạn thân Dậu gà và cô bạn ngồi cạnh trên giảng đường đại học. Chiếc thuyền chứa hơn một trăm người sau mười ngày lênh đênh trên biển cả đã trôi dạt vào một hòn đảo Mã Lai. Hôm sau lính biên phòng Mã Lai tuyên bố kéo thuyền đi trại tỵ nạn Bidong. Kéo thuyền đi gần một ngày trời bọn lính chặt dây nối thuyền sau khi trấn lột toàn bộ tư trang của thuyền nhân. Mọi người trên thuyền đều hoảng loạn và thất vọng chỉ biết cầu nguyện cùng Thượng Đế của mình và đành phó mặc cho số phận đưa đẩy. Thuyền dật dờ trôi dạt một ngày đêm. Sáng sớm hôm sau thuyền mắc cạn, mọi người dìu dắt, bồng bế nhau lội vào bờ… Một tháng rưỡi sống trên hoang đảo như người rừng. Thiên nhiên là nhà, bãi biển làm giường, không mùng mền chiếu gối. Ban ngày đi câu cá bằng cần câu tự chế hoặc vào rừng bắt kỳ nhông làm lương thực, ban đêm đi nhặt dừa rợi rụng để ăn hoặc để trao đổi với thổ dân lấy gạo. Có nhiều lần đi bắt kỳ nhông gặp những con Komodo Dragon, một loại kỳ nhông khổng lồ dài cả mét rượt đuổi làm ba anh em Thành sợ chạy chối chết. Đi nhặt dừa ban đêm vì ban ngày nếu bọn lính canh gác đảo bắt gặp ai lấy dừa sẽ bị phạt cạo trọc đầu. Với tài nội trợ khéo léo, bà chị của Thành chế biến dừa bảy món để cầm hơi qua ngày: dừa kho, dừa xào, dừa muối, cháo dừa, cơm chiên dừa … Cho đến bây giờ mỗi lần bà xã nấu chè hoặc chế biến thức ăn có mùi nước dừa là Thành sợ phát ói! Đặc biệt bờ biển này có một loại hải sâm (sea-cucumber) thường trôi dạt vào bờ. Mấy người Hoa cùng thuyền nhặt về phơi khô. Anh em Thành cũng đi lượm về nhưng không biết cách chế biến nên để ươn thối rồi lại đem đổ đi. Cảnh trí ở đảo thật đẹp và nên thơ với những rừng dừa xanh chạy dọc theo bờ biển dài. Nhiều đêm ngồi một mình trên bãi biển, nhìn về bên kia bờ đại dương xa tít mù Thành chạnh lòng nhớ đến người mẹ hiền ở quê nhà. Từ ngày ba mất, mẹ Thành “thân cò một mình lặn lội nuôi con”. Khi thấy các con đủ khôn lớn, mẹ đã vét cạn sạch hết số vốn liếng còn lại mua tương lai cho con cháu qua chuyến vượt biển này. Mẹ ơi, “nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ”. Nghe tiếng sóng vỗ bờ con muốn hét thật to át tiếng sóng để mẹ nghe rõ tiếng lòng con: mẹ yêu dấu, con yêu mẹ nhất trên đời! Ngồi một mình trên biển vắng, dưới ánh trăng vàng lung linh chiếu tỏa, Thành vẽ nghệch ngoạc trên cát để tìm lại những kỷ niệm tuổi học trò Vào một buổi chiều năm xưa trong phòng hội ở Trạm Hành, Thành nổi hứng lấy bút chì phác chân dung cha giám đốc Matheo Chung. Vẽ xong ai cũng khen hình vẽ giống cha i hệt. Thày Lâm đã treo tấm hình vẽ của Thành lên bảng thông báo cạnh nhà thuốc cho mọi người thưởng thức. Những tấm hình lưu niệm lớp 6&7 của đoàn Thiên Vương cũng do bàn tay tài hoa của Thành trang trí. Thành còn nhớ mãi những buổi tối khi các bạn khác đi ngủ, thày Sơn gọi đi làm báo tường Hội Lành với các bạn Viết Đệ, Vũ Đức, Dậu gà, Công Minh…dưới nhà hội thật vui. Trong số các cha thày cũ: thày Sơn, thày Thuộc, thày Vĩnh là ba người thày Công Thành không bao giờ quên ơn. Lúc còn nhỏ Thành bị trở ngại trong việc phát âm (speech defect), thày Sơn thày Thuộc đã luyện giọng cho Thành bằng cách dẫn Thành lên sân banh hoặc vào rừng thông hét thật to những vần a ê i o u. Về Don Bosco Thủ Đức, thày Vĩnh còn tiếp tục giúp Thành nên nhiều bạn chêu chọc Thành là ấm tử thày Vĩnh. Thế rồi số phận cũng mỉm cười với nhóm thuyền nhân Việt Nam trên đảo vắng Mã Lai. Một nhóm du khách Singapore ghé đảo nhìn thấy tình trạng dở khóc dở cười của chúng tôi, họ đã báo cáo cho văn phòng tỵ nạn Liên Hiệp Quốc đến trợ giúp và đưa nhóm chúng tôi về trại tỵ nạn Bidong… Nếu không có lẽ Công Thành đã trở thành anh chàng Tarzan bất đắc dĩ thế kỷ XXI rồi! Hai năm học xong chương trình ESL, năm 1981 Công Thành bước vào đại học. Đời sống sinh viên gắn liền với ba không gian: phòng học, thư viện và phòng ngủ. Hàng ngày vào lớp ngồi nghe giáo sư nói đủ mọi chuyện trên trời dưới đất. Trước khi tan lớp ông đưa một list những sách cần đọc để tham khảo cho bài viết hoặc đề tài nghiên cứu. Nếu bạn bước vào bất cứ một trường đại học nào, đi đâu cũng sẽ nhìn thấy sinh viên cắm cúi đọc sách ngay tại nhà ăn, ghế đá, bãi cỏ, trên xe bus hoặc ngay cả lúc đi bộ. Đối với sinh viên bản xứ họ cần thời gian cả ngày đêm mới ngốn hết đống sách homework nên sinh viên nhập cư đi học còn mệt hơn đi cày. Cày ngang cày dọc cày nát quyển sách mới hiểu được ý tác giả. Những ngày weekend Thành lại gò lưng đi làm thêm kiếm tiền mua sách vở và trang trải những chi phí linh tinh khác. Suốt những năm học đại học, Công Thành không hề biết mùa hè là gì. Ngồi nghĩ lại những ngày tháng còn là sinh viên bên quê nhà sao mà dễ thương và mơ mộng thế… Ngày xưa Trời ở trên trời Trời xui đàng ấy đến ngồi bên ta Ngày xưa đàng ấy nhà xa Tan trường mưa quá nên ta đưa về Ngày xưa đàng ấy tóc thề Ta thời tóc ngắn nên về tương tư Ngày xưa ta viết phong thư Đằng ấy nhận được hình như... bằng lòng Ngày xưa có tiếng thì thầm Mai sau đừng có thay lòng à nha ! Những năm dài đại học rồi cũng trôi nhanh. Bù đắp cho những tháng ngày mài mòn đũng quần trên ghế giảng đường, bây giờ Công Thành đã có ba bằng đại học vắt vai làm hành trang cuộc đời : Medical Physic, Computer Engineer và Master of Education. Năm 1985 Công Thành di dời về Toronto, gặp lại cha Peter Phạm Hoàng Bá đang làm cha xứ Cộng Đoàn Đức Mẹ La Vang Mississauga, Ontario. Niên học 70-71 ở Trạm hành thày Bá cùng với thày Thuộc hộ trực lớp bẩy đàn anh. Thày trò gặp lại nhau tay bắt mặt mừng. Từ ngày đó Công Thành là một thành viên tích cực cộng tác với cha Bá trong Hội Đồng Mục Vụ, tham gia dạy giáo lý và việt ngữ cho các em thiếu nhi trong xứ. Trong nhóm cộng tác viên năng động của giáo xứ có một bông hoa tươi thắm đã hút hồn chàng trai trẻ khiến Công Thành siêng đi lễ hơn, thích làm công việc thiện nguyện trong nhà thờ hơn. Trong góc ngôi nhà thờ vắng lặng người ta thường nghe văng vẳng tiếng hát tha thiết nguyện cầu : Con quỳ lạy Chúa trên trời, sao cho con lấy được người con thương... Không biết Chúa có thấu lòng Công Thành không nhưng Mỹ Hương đã thực sự rung động trước mối tình si chàng dành cho nàng. Thế rồi những buổi hẹn hò đưa đón đã làm cho hai trái tim yêu đập chung nhịp ngày càng thêm gắn bó. Lần hẹn hò ấy chàng và nàng đã soạn chung một bản hợp đồng tình yêu :
Kể từ ngày 26/09/1987
_Công Thành & Mỹ Hương sẽ cùng share chung một mái nhà.
_ nàng sẽ suốt đời nấu cơm nội trợ cho chàng.
_ chàng sẽ rửa chén lau nhà phụ nàng đến trọn kiếp.
Mùa thu Toronto 1987 có màu sắc quyến rũ lạ thường. Nắng vàng le lói chiếu xuyên qua cành lá, chim chóc nhảy nhót ríu rít trên cành thì thầm kể cho nhau nghe một câu chuyện tình tuyệt đẹp. Hôm ấy chuông nhà thờ Đức Mẹ La Vang Mississauga đổ từng hồi dài rộn rã chúc mừng đôi uyên ương đã trao nhau lời hứa trọn đời chung thủy nghĩa vợ chồng. Hai mươi năm không kể là dài so với một đời người nhưng hai mươi năm hôn nhân hạnh phúc là một chuỗi dài thời gian đáng ghi nhớ. Như hai nhánh thác tạo nên một Niagara Falls hùng vĩ tôn tạo vẻ đẹp cho đời, Công Thành & Mỹ Hương đã gắn bó bên nhau suốt hai chục năm dài cùng chia sẻ một mái ấm, chia chung niềm vui nỗi buồn, cùng chung tay vun đắp cho hạnh phúc tương lai. Bây giờ mái ấm của đôi uyên ương không chỉ có hai thành viên nhưng đã thành bốn : Công Thành & Mỹ Hương, con gái Phương Thảo (18 t) và con trai Công Thuận (13 t). Xin chúc mừng Công Thành, người nghệ sĩ tài hoa thầm lặng đang cống hiến cho đời những nét vẽ khai phá tâm hồn trong sự nghiệp giáo dục vì tương lai thế hệ trẻ.