
Mến tặng 101 anh em lớp sáu-1970 Don Bosco Trạm Hành.
Boston ngày 25 tháng 8 năm 2007
Nguyễn Quang Dung
Còn hơn một tuần nữa là ngày khai trường (sau ngày lễ Lao Động của Hoa Kỳ vào đầu tháng chín). Vợ chồng tôi dành trọn weekend này dẫn cháu Diệu Ân đi mua sắm đồng phục, dụng cụ học sinh sửa soạn cho cháu vào lớp một. Các trường học ở Boston không bắt buộc học sinh mặc đồng phục ngoại trừ một vài trường nhưng vợ chồng chúng tôi chọn trường này cho cháu vì trường nổi tiếng về kỷ luật và đào tạo học sinh giỏi. Không biết cháu có nôn nao khi ngày khai trường đang đến gần không nhưng nhìn vợ tôi bận rộn chuẩn bị cho cháu đi học khiến lòng tôi bâng khuâng nhớ lại những kỷ niệm 37 năm về trước. Một đoạn văn của nhà văn Thanh Tịnh viết về ngày tựu trường tôi còn nhớ mãi. “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.”
Lúc ấy tôi là một cậu bé mười hai tuổi, nghe thày mẹ tôi bảo “đi tu” tôi cũng vui vẻ vâng theo vì được đi học xa nhà, được mua sắm quần áo mới và nhất là tự dưng tôi trở thành một nhân vật được cả nhà yêu mến, chiều chuộng do cái “mác thày tu” thày mẹ tôi gắn lên tôi.
Kỳ hè năm 1970 tôi học hết lớp nhất, bà sơ dạy học giới thiệu tôi và hai bạn cùng lớp là thày chùa Công Minh và bạn Nguyễn Đình Trung (đang chăn kangaroo ở Úc) đi thi tuyển ở trường dòng Don Bosco Thủ Đức. Ba đứa tôi khăn gói quả mướp lên đường. Một tuần khảo hạch với các môn học văn hóa như việt văn, toán và môn giáo lý; chúng tôi còn được kiểm tra về cách sống tập thể trong các giờ sinh hoạt chung như đọc kinh xem lễ, chơi thể thao, ăn uống…. Ngày công bố kết quả ai nhận được phong bì nhỏ có lá thơ từ chối bên trong là bị loại. Ai nhận được phong bì lớn với những chỉ dẫn về hồ sơ học sinh phải nộp, về danh sách những dụng cụ cá nhân cần mua sắm và cả một lá thư gởi cho cha xứ xin giới thiệu chúng tôi với nhà dòng.
Thày mẹ tôi rất vui khi biết tôi được trúng tuyển. Mấy ngày sau chị tôi dắt tôi đi chợ mua sắm vật dụng cá nhân theo như thư báo:
- 1 áo len màu đen cổ trái tim.
- 2 bộ đồng phục áo trắng quần đen.
- vài bộ đồ mặc thường và quần áo lót.
- 1 đôi giày đen và vớ đi giày.
Những thứ này phải nói là đồ xa xỉ đối với tôi vì lúc bấy giờ gia sản của tôi chỉ có một bộ quần áo đẹp dành đi lễ; đi học mặc quần xà lỏn với áo sơ mi cũ và quanh năm đi chân đất không hề sỏ dép….
Ngày tựu trường vào đầu tháng bẩy năm ấy, chúng tôi tập trung tại Don Bosco Thủ Đức chiều hôm trước ngày khởi hành. Tôi chào má và anh chị em rồi theo bố tôi đón xe lam lên trường Don Bosco TĐ. Lần đầu tiên được đi xa tới một nơi chưa hề biết nên tôi mang tâm trạng háo hức không tỏ vẻ gì buồn mặc dù má tôi và chị tôi rươm rướm nước mắt tiễn biệt.
Sáng sớm hôm sau khi thức dậy đã thấy bốn chiếc xe đò lớn nằm chờ sẵn trên sân banh. Lần lượt chúng tôi được gọi tên lên xe, vali quần áo được chất lên mui xe. Ngồi trên xe nhìn quanh thấy các bạn đều bằng tuổi mình: đứa cười nói, đứa lấy tay chỉ trỏ nhưng cũng có đứa ngồi buồn thiu nhớ nhà…. Xe lăn bánh ra hướng quốc lộ, hết ranh giới Thủ Đức tới cầu Đồng Nai. Qua ngã ba đi Vũng Tàu đến Tam Hiệp, Hố Nai với những tháp chuông nhà thờ cao chót vót của các giáo xứ Bùi Thái, Kẻ Sặt, Ngọc Đồng, Tân Bình, Bình An… Hai bên đường là rừng cao su trồng thẳng tắp thật đẹp mắt khi xe chạy qua Trảng Bom, Bàu Cá. Hết khu rừng cao su mênh mông tới ngã ba Dầu Giây. Ngã rẽ phải đi về Long Khánh, Phan Thiết, Nha Trang, Huế…. Xe chúng tôi rẽ trái về hướng Bảo Lộc, Đà Lạt. Một cảnh tượng buôn bán thật nhộn nhịp ngay tại ngã ba Dầu Giây. Nhiều bé trai và gái trạc tuổi tôi miệng rao hàng dẻo quẹo chào mời khách trên xe mỗi khi xe chạy chậm chậm hoặc ngừng lại cho hành khách giải quyết “bầu tâm sự” bên trong những rừng cao su bên đường. Xe chạy xa rồi tôi vẫn còn nghe văng vẳng những giọng trong trẻo rao hàng: “mía ghim đây”, “sầu riêng chôm chôm đây”, “bánh gai Hố Nai nóng hổi đây…”
Qua Dầu Giây tới Gia Kiệm, Dốc Mơ, Phương Lâm… là những nơi tập trung các xứ đạo của các giáo dân di cư 54 từ miền Bắc vào. Những mái nhà tôn nhà lá san sát nhau chạy dài hai bên quốc lộ. Thỉnh thoảng lại thấy một nóc nhà thờ với cây thánh giá nhô cao như một dấu chỉ che chở thần linh cho những con chiên mộ đạo. Một nét đặc trưng khác của các trại đinh cư là cảnh họp chợ ven đường. Mỗi lần xe chạy ngang qua chợ tài xế phải giảm tốc độ vì sự mua bán nhộn nhịp tấp nập tràn ra tận lề đường. Nhìn các bà các cô ngồi bán hàng đầu đội nón lá, miệng tươi cười chào hàng làm tôi nhớ đến hình ảnh má tôi cũng đang tần tảo buôn bán ở nhà để kiếm tiền cho anh chị em chúng tôi ăn học….
Ngang qua Định Quán, một hình ảnh gây ấn tượng mãi trong tôi là hai hòn đá chồng cao ngất bằng chiều cao ngôi nhà hai tầng. Nếu trên đỉnh hòn đá không có chòi canh gác của lính VNCH mà thay vào đó là một cây cau xanh lá với những dây trầu không quấn quanh thân cau thì cảnh vật sẽ trở nên lãng mạng y hệt như câu chuyện cổ tích sự tích trầu cau vậy.
Xe đang chạy bỗng gặp sự cố. Sau một hồi lâu sửa chữa tài xế cho biết máy bị hư hại nặng không thể tiếp tục đi được nữa. Cha Matheo Chung, thày Khơi và thày Doãn dẫn đám chúng tôi khoảng 50 chục học sinh đi bộ xa hàng cây số tới một nhà cha xứ để nghỉ ngơi. Cha xứ già hiếu khách đón tiếp đám học sinh chúng tôi rất vui vẻ chân tình. Đêm ấy chúng tôi được ăn những trái bắp luộc nóng hổi đến căng bụng rồi nằm lăn ra ngủ ngay trên sàn nhà cha xứ. Sau thánh lễ buổi sáng ngày hôm sau chúng tôi tiếp tục lên đường.
Xe vượt qua đèo chuối, đèo ba cô tới Bảo Lộc. Xe ì ạch leo qua đèo chuối trên con đường hai bên núi đồi trùng điệp phủ xanh màu lá chuối. Hết đèo chuối tới đèo ba cô, một bên vách đá một bên thung lũng cây xanh ngút ngàn. Nhìn từng đám sương mù bay lả tả trên ngọn cây, văng vẳng đây đó tiếng róc rách suối reo cho ta cảm giác như đi lạc vào cõi thiên thai.
Rồi những đồi trà xuất hiện từ xa, thấp thoáng đây đó vài bóng cô gái vùng sơn cước cắm cúi hái trà làm bức tranh thiên nhiên càng thêm sinh động quyến rũ.
Mùi trà sấy thơm ngát báo hiệu xe tới thị xã Bảo Lộc, ngưòi ta thấy những bảng hiệu nối tiếp nhau như trà Đỗ Hữu, trà Đức Thái, trà Bảo Lộc…dọc hai bên đường.
Tới Di Linh, từng đoàn người dân tộc thiểu số vai đeo gùi hoặc lưng địu con đi lang thang vô định dọc theo quốc lộ như những người con tự do của núi rừng. Nét mặt họ thật vô tư không vương chút lo âu vì họ chọn thiên nhiên là nhà, hoa quả thú rừng là lương thực mà Mẹ Đất ưu đãi họ.
Xe tới ngã ba Phi Nôm, nếu đi thẳng chẳng bao lâu sẽ tới thành phố Đà lạt mộng mơ. Xe chúng tôi rẽ vào Đơn Dương đi về hướng Trạm Hành, Cầu Đất. Hai bên đường rừng thông bạt ngàn. Những cây thông thẳng tắp chen nhau vươn ngọn tận mây xanh. Trạm Hành nằm trên ngọn đồi cao nhất nhì Đà Lạt nên xe cứ xuống lũng lên đồi vượt hết ngọn đồi này tới ngọn đồi khác. Cảnh vật bỗng nhạt nhòa trong mắt tôi không biết vì trời mưa hay bởi nước mắt nhớ nhà…
Cuối cùng xe chúng tôi cũng tới trường Don Bosco Trạm Hành. Trường nằm giữa một khu rừng thông rộng lớn. Từ cổng vào những ngôi nhà ngói nhỏ bé bằng gỗ theo kiến trúc của người Pháp thật xinh xắn xếp thẳng hàng chào đón chúng tôi với những bụi hồng nở tươi trước hiên nhà. Xe chạy qua vườn hoa Đức Mẹ đối diện nhà cha tập sư (cha Kim) rồi ngừng ngay trước nhà khu nhà ngủ rộng dài đối diện nhà cơm. Chúng tôi ai cũng co ro run lạnh đứng chờ lấy vali. Bá Khanh thấy anh cả Đình Dũng cao lớn đứng bên cạnh tưởng là thày hộ trực bèn xin giúp:
- thày đỡ giùm em cái vali màu xanh kia kìa…
Sĩ số năm đầu tiên của lớpchúng tôi ở Trạm Hành là 101 học sinh được chia thành hai đoàn. Ai thiếu chiều cao vào đoàn Phù Đổng Thiên Vương do thày Sơn, thày Gioan Baotixita Cương và thày Cương thi sĩ phụ trách. Những ai to đầu mà dại vào đoàn Lê Lợi của thày Tiến Hiệp và thày Thuần.
Lên phòng ngủ ở trên lầu mỗi đứa được chỉ định một chỗ ngủ gồm giường lò so cá nhân có nệm được phủ một chiếc mền đồng màu xám tro và một chiếc tủ nhỏ đặt ngay cạnh đầu giường. Dọn dẹp chỗ ngủ xong chúng tôi được dẫn xuống nhà hội là nơi học hành riêng tư và làm bài sau những giờ đến lớp. Phòng hội dài rộng chứa đủ chỗ ngồi cho hai trăm học sinh. Don Bosco Trạm Hành niên học 70_71 có hai cấp lớp 6 và 7. Phần nửa trên nhà hội dành cho lớp sáu, phần còn lại dành cho lớp bẩy. Mỗi đứa một bàn học có ngăn kéo ở giữa, phía chân trái bàn học được thiết kế thành hai kệ đựng sách vở.
Sau bữa cơm tối lên nhà thờ đọc kinh chung rồi chúng tôi đi ngủ sớm sau một chuyến hành trình dài mệt mỏi. Giữa đêm khuya thanh vắng nhiều tiếng nấc nghẹn ngào hòa lẫn tiếng gió hú thông reo bên ngoài cửa sổ càng làm cho nỗi nhớ nhà thêm thấm thía…
Sáng hôm sau học sinh cũ mới được giới thiệu về các cha thày trong nhà trường.
_ cha giám đốc: cha Matheo Chung người Trung Hoa rất hiền hoà và yêu trẻ.
_ cha quản lý: cha Phán người Pháp nói tiếng Việt không được rành rẽ. Có lần trong nhà
hội ai đó đánh địt làm ô nhiễm không khí nên cha viết lên một tờ giấy hàng chữ “ cái
rắm ai của?” rồi cầm đi hỏi từng học sinh làm cả nhà hội cười khúc khích ….
_ cha hiệu trưởng: cha Trang người Trung Hoa luôn nở một nụ cười tươi trên môi. Đầu cha lúc nào cũng nghiêng về một bên như nghệ sĩ đang kéo đàn violin nhưng cha rất dễ thương, chăm sóc chúng tôi như con ruột mình vậy. Nghe nói những năm có thuyền nhân tỵ nạn ở Hong Kong cha thường xuyên ghé các trại để tìm kiếm giúp đỡ các học trò cũ.
_ cha giám linh: cha Lạc người Thụy Sĩ cao lớn như lính vệ binh giáo hoàng, phụ trách
nhà thờ và phòng thuốc. Don Bosco có một châm ngôn: “mở cửa nhà cơm và đóng cửa
nhà thuốc” nên cha Lạc thường ăn lương thất nghiệp vì nhà thuốc không có bệnh nhân.
Buổi sáng hôm ấy chúng tôi đi mua sắm tại văn phòng cha quản lý những vật dụng cá nhân: 1 cà vạt màu đen thêm vào bộ đồng phục mặc vào những ngày Chủ Nhật và lễ trọng, xà bông, kem đánh răng, bàn chải… Không ai được giữ tiền riêng. Tiền bạc gởi cha quản lý giữ và sẽ trừ dần sau mỗi lần mua sắm.
Mua sắm xong chúng tôi xuống hội trường tập hát. Tôi vẫn còn nhớ hai bài hát đầu tiên chúng tôi học là bài:
_ Gần cha mến yêu mối tình đoàn con cái dạt dào….
_ Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia đoàn thanh niên ta góp tài ba….
Chúng tôi đã được tiếp máu văn nghệ thể thao ngay từ những ngày đầu tiên ở Trạm Hành nên các vị phu nhân đừng hỏi tại sao các đức ông chồng chvsdb70 quậy thế???
Buổi chiều chúng tôi được dẫn lên sân Savio trên đồi thông đá bóng. Sân rộng bằng kích thước của FIFA nên thay vì đá banh theo chiều dọc sân, các thày chia sân lớn thành hai sân bóng nhỏ đá theo chiều ngang. Cha Trang, cha Lạc, thày ba Tỵ và các thày hộ trực cùng ra sân chơi đá bóng với chúng tôi. Hầu hết chúng tôi lần đầu tiên ra sân nên chẳng biết mình thuộc bên nào, đá vào cầu môn nào. Hễ gặp banh là đá loạn xà ngầu nên banh thường đá chúng tôi hơn là chúng tôi đá banh. Nhưng cũng có một số bạn chơi nổi bật trên sân như bộ ba Thiết Trung-Ngọc Đức-Đại Thắng đã chơi đá banh ở trường nội trú Đồng Công (tên riêng “Đồng Công mất trí” chúng tôi đặt cho Hoàng Đại Thắng phát nguyên từ đấy), Đức Thịnh nhà ở giáo xứ Từ Đức cạnh nhà dòng đã từng đá bóng trong đội thiếu niên vui, Dũng Phaolo, Hà trâu, Quang Tuấn, Công Bình, Viết Xuân…
Diệm củ sâm mê đào sâm hơn đá bóng nên chỉ chờ thời cơ trái bóng bị đá ra ngoài bay vào rừng thông là hắn chạy biến vào rừng nhặt banh nhưng ở lại trong rừng đào sâm cho tới hết giờ chơi mới bò ra…
Bộ phim hoạt hình One hundred one dalmatians_101 con chó đốm do Walt Disney sản xuất không một trẻ em nào lại không mê thích. Ba đứa con của tôi, thằng lớn năm nay vào đại học khi nó bằng tuổi hai đứa em bây giờ cũng từng xem đi xem lại nhiều lần bộ phim này. Mỗi khi xem tới đoạn 101 con chó đốm chạy trốn thoát khỏi hai tay săn thú chuyên lột da súc vật để sản xuất hàng thời trang phụ nữ là các con tôi vỗ tay miệng reo hò cổ võ đàn chó…
Con số 101 làm tôi liên tưởng đến cảnh 101 học sinh lớp sáu-1970 đồng loạt chạy ùa ra sân chơi trên đồi thông Trạm Hành vào mỗi buổi chiều sau sáu tiết học. Chúng tôi chạy nhảy la hét chơi đùa không biết mệt cho đến khi tiếng còi báo hiệu kết thúc giờ chơi vang lên.
101 đứa chúng tôi bây giờ mỗi đứa mỗi ngả khắp bốn phương trời nhưng bất kỳ ai đã từ trong cái nôi Don Bosco Trạm Hành bước ra đời đều có chung những đặc điểm:
_ yêu văn nghệ thể thao và yêu vợ nhất trên đời.
_ chịu chơi hết mình nhưng không bao giờ chơi chịu.
_ mang nặng tình nghĩa bạn bè và lòng biết ơn cha thày.
Nếu một ngày nào đó trên đường đời bạn bắt gặp một ai có những nét đặc thù trên thì đích thị hắn là con cái Don Bosco. Hãy đến bắt tay hắn để nối vòng tay lớn thắt chặt tình ái hữu cựu học viên Don Bosco bạn nhé
Boston ngày 25 tháng 8 năm 2007
Nguyễn Quang Dung
Còn hơn một tuần nữa là ngày khai trường (sau ngày lễ Lao Động của Hoa Kỳ vào đầu tháng chín). Vợ chồng tôi dành trọn weekend này dẫn cháu Diệu Ân đi mua sắm đồng phục, dụng cụ học sinh sửa soạn cho cháu vào lớp một. Các trường học ở Boston không bắt buộc học sinh mặc đồng phục ngoại trừ một vài trường nhưng vợ chồng chúng tôi chọn trường này cho cháu vì trường nổi tiếng về kỷ luật và đào tạo học sinh giỏi. Không biết cháu có nôn nao khi ngày khai trường đang đến gần không nhưng nhìn vợ tôi bận rộn chuẩn bị cho cháu đi học khiến lòng tôi bâng khuâng nhớ lại những kỷ niệm 37 năm về trước. Một đoạn văn của nhà văn Thanh Tịnh viết về ngày tựu trường tôi còn nhớ mãi. “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.”
Lúc ấy tôi là một cậu bé mười hai tuổi, nghe thày mẹ tôi bảo “đi tu” tôi cũng vui vẻ vâng theo vì được đi học xa nhà, được mua sắm quần áo mới và nhất là tự dưng tôi trở thành một nhân vật được cả nhà yêu mến, chiều chuộng do cái “mác thày tu” thày mẹ tôi gắn lên tôi.
Kỳ hè năm 1970 tôi học hết lớp nhất, bà sơ dạy học giới thiệu tôi và hai bạn cùng lớp là thày chùa Công Minh và bạn Nguyễn Đình Trung (đang chăn kangaroo ở Úc) đi thi tuyển ở trường dòng Don Bosco Thủ Đức. Ba đứa tôi khăn gói quả mướp lên đường. Một tuần khảo hạch với các môn học văn hóa như việt văn, toán và môn giáo lý; chúng tôi còn được kiểm tra về cách sống tập thể trong các giờ sinh hoạt chung như đọc kinh xem lễ, chơi thể thao, ăn uống…. Ngày công bố kết quả ai nhận được phong bì nhỏ có lá thơ từ chối bên trong là bị loại. Ai nhận được phong bì lớn với những chỉ dẫn về hồ sơ học sinh phải nộp, về danh sách những dụng cụ cá nhân cần mua sắm và cả một lá thư gởi cho cha xứ xin giới thiệu chúng tôi với nhà dòng.
Thày mẹ tôi rất vui khi biết tôi được trúng tuyển. Mấy ngày sau chị tôi dắt tôi đi chợ mua sắm vật dụng cá nhân theo như thư báo:
- 1 áo len màu đen cổ trái tim.
- 2 bộ đồng phục áo trắng quần đen.
- vài bộ đồ mặc thường và quần áo lót.
- 1 đôi giày đen và vớ đi giày.
Những thứ này phải nói là đồ xa xỉ đối với tôi vì lúc bấy giờ gia sản của tôi chỉ có một bộ quần áo đẹp dành đi lễ; đi học mặc quần xà lỏn với áo sơ mi cũ và quanh năm đi chân đất không hề sỏ dép….
Ngày tựu trường vào đầu tháng bẩy năm ấy, chúng tôi tập trung tại Don Bosco Thủ Đức chiều hôm trước ngày khởi hành. Tôi chào má và anh chị em rồi theo bố tôi đón xe lam lên trường Don Bosco TĐ. Lần đầu tiên được đi xa tới một nơi chưa hề biết nên tôi mang tâm trạng háo hức không tỏ vẻ gì buồn mặc dù má tôi và chị tôi rươm rướm nước mắt tiễn biệt.
Sáng sớm hôm sau khi thức dậy đã thấy bốn chiếc xe đò lớn nằm chờ sẵn trên sân banh. Lần lượt chúng tôi được gọi tên lên xe, vali quần áo được chất lên mui xe. Ngồi trên xe nhìn quanh thấy các bạn đều bằng tuổi mình: đứa cười nói, đứa lấy tay chỉ trỏ nhưng cũng có đứa ngồi buồn thiu nhớ nhà…. Xe lăn bánh ra hướng quốc lộ, hết ranh giới Thủ Đức tới cầu Đồng Nai. Qua ngã ba đi Vũng Tàu đến Tam Hiệp, Hố Nai với những tháp chuông nhà thờ cao chót vót của các giáo xứ Bùi Thái, Kẻ Sặt, Ngọc Đồng, Tân Bình, Bình An… Hai bên đường là rừng cao su trồng thẳng tắp thật đẹp mắt khi xe chạy qua Trảng Bom, Bàu Cá. Hết khu rừng cao su mênh mông tới ngã ba Dầu Giây. Ngã rẽ phải đi về Long Khánh, Phan Thiết, Nha Trang, Huế…. Xe chúng tôi rẽ trái về hướng Bảo Lộc, Đà Lạt. Một cảnh tượng buôn bán thật nhộn nhịp ngay tại ngã ba Dầu Giây. Nhiều bé trai và gái trạc tuổi tôi miệng rao hàng dẻo quẹo chào mời khách trên xe mỗi khi xe chạy chậm chậm hoặc ngừng lại cho hành khách giải quyết “bầu tâm sự” bên trong những rừng cao su bên đường. Xe chạy xa rồi tôi vẫn còn nghe văng vẳng những giọng trong trẻo rao hàng: “mía ghim đây”, “sầu riêng chôm chôm đây”, “bánh gai Hố Nai nóng hổi đây…”
Qua Dầu Giây tới Gia Kiệm, Dốc Mơ, Phương Lâm… là những nơi tập trung các xứ đạo của các giáo dân di cư 54 từ miền Bắc vào. Những mái nhà tôn nhà lá san sát nhau chạy dài hai bên quốc lộ. Thỉnh thoảng lại thấy một nóc nhà thờ với cây thánh giá nhô cao như một dấu chỉ che chở thần linh cho những con chiên mộ đạo. Một nét đặc trưng khác của các trại đinh cư là cảnh họp chợ ven đường. Mỗi lần xe chạy ngang qua chợ tài xế phải giảm tốc độ vì sự mua bán nhộn nhịp tấp nập tràn ra tận lề đường. Nhìn các bà các cô ngồi bán hàng đầu đội nón lá, miệng tươi cười chào hàng làm tôi nhớ đến hình ảnh má tôi cũng đang tần tảo buôn bán ở nhà để kiếm tiền cho anh chị em chúng tôi ăn học….
Ngang qua Định Quán, một hình ảnh gây ấn tượng mãi trong tôi là hai hòn đá chồng cao ngất bằng chiều cao ngôi nhà hai tầng. Nếu trên đỉnh hòn đá không có chòi canh gác của lính VNCH mà thay vào đó là một cây cau xanh lá với những dây trầu không quấn quanh thân cau thì cảnh vật sẽ trở nên lãng mạng y hệt như câu chuyện cổ tích sự tích trầu cau vậy.
Xe đang chạy bỗng gặp sự cố. Sau một hồi lâu sửa chữa tài xế cho biết máy bị hư hại nặng không thể tiếp tục đi được nữa. Cha Matheo Chung, thày Khơi và thày Doãn dẫn đám chúng tôi khoảng 50 chục học sinh đi bộ xa hàng cây số tới một nhà cha xứ để nghỉ ngơi. Cha xứ già hiếu khách đón tiếp đám học sinh chúng tôi rất vui vẻ chân tình. Đêm ấy chúng tôi được ăn những trái bắp luộc nóng hổi đến căng bụng rồi nằm lăn ra ngủ ngay trên sàn nhà cha xứ. Sau thánh lễ buổi sáng ngày hôm sau chúng tôi tiếp tục lên đường.
Xe vượt qua đèo chuối, đèo ba cô tới Bảo Lộc. Xe ì ạch leo qua đèo chuối trên con đường hai bên núi đồi trùng điệp phủ xanh màu lá chuối. Hết đèo chuối tới đèo ba cô, một bên vách đá một bên thung lũng cây xanh ngút ngàn. Nhìn từng đám sương mù bay lả tả trên ngọn cây, văng vẳng đây đó tiếng róc rách suối reo cho ta cảm giác như đi lạc vào cõi thiên thai.
Rồi những đồi trà xuất hiện từ xa, thấp thoáng đây đó vài bóng cô gái vùng sơn cước cắm cúi hái trà làm bức tranh thiên nhiên càng thêm sinh động quyến rũ.
Mùi trà sấy thơm ngát báo hiệu xe tới thị xã Bảo Lộc, ngưòi ta thấy những bảng hiệu nối tiếp nhau như trà Đỗ Hữu, trà Đức Thái, trà Bảo Lộc…dọc hai bên đường.
Tới Di Linh, từng đoàn người dân tộc thiểu số vai đeo gùi hoặc lưng địu con đi lang thang vô định dọc theo quốc lộ như những người con tự do của núi rừng. Nét mặt họ thật vô tư không vương chút lo âu vì họ chọn thiên nhiên là nhà, hoa quả thú rừng là lương thực mà Mẹ Đất ưu đãi họ.
Xe tới ngã ba Phi Nôm, nếu đi thẳng chẳng bao lâu sẽ tới thành phố Đà lạt mộng mơ. Xe chúng tôi rẽ vào Đơn Dương đi về hướng Trạm Hành, Cầu Đất. Hai bên đường rừng thông bạt ngàn. Những cây thông thẳng tắp chen nhau vươn ngọn tận mây xanh. Trạm Hành nằm trên ngọn đồi cao nhất nhì Đà Lạt nên xe cứ xuống lũng lên đồi vượt hết ngọn đồi này tới ngọn đồi khác. Cảnh vật bỗng nhạt nhòa trong mắt tôi không biết vì trời mưa hay bởi nước mắt nhớ nhà…
Cuối cùng xe chúng tôi cũng tới trường Don Bosco Trạm Hành. Trường nằm giữa một khu rừng thông rộng lớn. Từ cổng vào những ngôi nhà ngói nhỏ bé bằng gỗ theo kiến trúc của người Pháp thật xinh xắn xếp thẳng hàng chào đón chúng tôi với những bụi hồng nở tươi trước hiên nhà. Xe chạy qua vườn hoa Đức Mẹ đối diện nhà cha tập sư (cha Kim) rồi ngừng ngay trước nhà khu nhà ngủ rộng dài đối diện nhà cơm. Chúng tôi ai cũng co ro run lạnh đứng chờ lấy vali. Bá Khanh thấy anh cả Đình Dũng cao lớn đứng bên cạnh tưởng là thày hộ trực bèn xin giúp:
- thày đỡ giùm em cái vali màu xanh kia kìa…
Sĩ số năm đầu tiên của lớpchúng tôi ở Trạm Hành là 101 học sinh được chia thành hai đoàn. Ai thiếu chiều cao vào đoàn Phù Đổng Thiên Vương do thày Sơn, thày Gioan Baotixita Cương và thày Cương thi sĩ phụ trách. Những ai to đầu mà dại vào đoàn Lê Lợi của thày Tiến Hiệp và thày Thuần.
Lên phòng ngủ ở trên lầu mỗi đứa được chỉ định một chỗ ngủ gồm giường lò so cá nhân có nệm được phủ một chiếc mền đồng màu xám tro và một chiếc tủ nhỏ đặt ngay cạnh đầu giường. Dọn dẹp chỗ ngủ xong chúng tôi được dẫn xuống nhà hội là nơi học hành riêng tư và làm bài sau những giờ đến lớp. Phòng hội dài rộng chứa đủ chỗ ngồi cho hai trăm học sinh. Don Bosco Trạm Hành niên học 70_71 có hai cấp lớp 6 và 7. Phần nửa trên nhà hội dành cho lớp sáu, phần còn lại dành cho lớp bẩy. Mỗi đứa một bàn học có ngăn kéo ở giữa, phía chân trái bàn học được thiết kế thành hai kệ đựng sách vở.
Sau bữa cơm tối lên nhà thờ đọc kinh chung rồi chúng tôi đi ngủ sớm sau một chuyến hành trình dài mệt mỏi. Giữa đêm khuya thanh vắng nhiều tiếng nấc nghẹn ngào hòa lẫn tiếng gió hú thông reo bên ngoài cửa sổ càng làm cho nỗi nhớ nhà thêm thấm thía…
Sáng hôm sau học sinh cũ mới được giới thiệu về các cha thày trong nhà trường.
_ cha giám đốc: cha Matheo Chung người Trung Hoa rất hiền hoà và yêu trẻ.
_ cha quản lý: cha Phán người Pháp nói tiếng Việt không được rành rẽ. Có lần trong nhà
hội ai đó đánh địt làm ô nhiễm không khí nên cha viết lên một tờ giấy hàng chữ “ cái
rắm ai của?” rồi cầm đi hỏi từng học sinh làm cả nhà hội cười khúc khích ….
_ cha hiệu trưởng: cha Trang người Trung Hoa luôn nở một nụ cười tươi trên môi. Đầu cha lúc nào cũng nghiêng về một bên như nghệ sĩ đang kéo đàn violin nhưng cha rất dễ thương, chăm sóc chúng tôi như con ruột mình vậy. Nghe nói những năm có thuyền nhân tỵ nạn ở Hong Kong cha thường xuyên ghé các trại để tìm kiếm giúp đỡ các học trò cũ.
_ cha giám linh: cha Lạc người Thụy Sĩ cao lớn như lính vệ binh giáo hoàng, phụ trách
nhà thờ và phòng thuốc. Don Bosco có một châm ngôn: “mở cửa nhà cơm và đóng cửa
nhà thuốc” nên cha Lạc thường ăn lương thất nghiệp vì nhà thuốc không có bệnh nhân.
Buổi sáng hôm ấy chúng tôi đi mua sắm tại văn phòng cha quản lý những vật dụng cá nhân: 1 cà vạt màu đen thêm vào bộ đồng phục mặc vào những ngày Chủ Nhật và lễ trọng, xà bông, kem đánh răng, bàn chải… Không ai được giữ tiền riêng. Tiền bạc gởi cha quản lý giữ và sẽ trừ dần sau mỗi lần mua sắm.
Mua sắm xong chúng tôi xuống hội trường tập hát. Tôi vẫn còn nhớ hai bài hát đầu tiên chúng tôi học là bài:
_ Gần cha mến yêu mối tình đoàn con cái dạt dào….
_ Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia đoàn thanh niên ta góp tài ba….
Chúng tôi đã được tiếp máu văn nghệ thể thao ngay từ những ngày đầu tiên ở Trạm Hành nên các vị phu nhân đừng hỏi tại sao các đức ông chồng chvsdb70 quậy thế???
Buổi chiều chúng tôi được dẫn lên sân Savio trên đồi thông đá bóng. Sân rộng bằng kích thước của FIFA nên thay vì đá banh theo chiều dọc sân, các thày chia sân lớn thành hai sân bóng nhỏ đá theo chiều ngang. Cha Trang, cha Lạc, thày ba Tỵ và các thày hộ trực cùng ra sân chơi đá bóng với chúng tôi. Hầu hết chúng tôi lần đầu tiên ra sân nên chẳng biết mình thuộc bên nào, đá vào cầu môn nào. Hễ gặp banh là đá loạn xà ngầu nên banh thường đá chúng tôi hơn là chúng tôi đá banh. Nhưng cũng có một số bạn chơi nổi bật trên sân như bộ ba Thiết Trung-Ngọc Đức-Đại Thắng đã chơi đá banh ở trường nội trú Đồng Công (tên riêng “Đồng Công mất trí” chúng tôi đặt cho Hoàng Đại Thắng phát nguyên từ đấy), Đức Thịnh nhà ở giáo xứ Từ Đức cạnh nhà dòng đã từng đá bóng trong đội thiếu niên vui, Dũng Phaolo, Hà trâu, Quang Tuấn, Công Bình, Viết Xuân…
Diệm củ sâm mê đào sâm hơn đá bóng nên chỉ chờ thời cơ trái bóng bị đá ra ngoài bay vào rừng thông là hắn chạy biến vào rừng nhặt banh nhưng ở lại trong rừng đào sâm cho tới hết giờ chơi mới bò ra…
Bộ phim hoạt hình One hundred one dalmatians_101 con chó đốm do Walt Disney sản xuất không một trẻ em nào lại không mê thích. Ba đứa con của tôi, thằng lớn năm nay vào đại học khi nó bằng tuổi hai đứa em bây giờ cũng từng xem đi xem lại nhiều lần bộ phim này. Mỗi khi xem tới đoạn 101 con chó đốm chạy trốn thoát khỏi hai tay săn thú chuyên lột da súc vật để sản xuất hàng thời trang phụ nữ là các con tôi vỗ tay miệng reo hò cổ võ đàn chó…
Con số 101 làm tôi liên tưởng đến cảnh 101 học sinh lớp sáu-1970 đồng loạt chạy ùa ra sân chơi trên đồi thông Trạm Hành vào mỗi buổi chiều sau sáu tiết học. Chúng tôi chạy nhảy la hét chơi đùa không biết mệt cho đến khi tiếng còi báo hiệu kết thúc giờ chơi vang lên.
101 đứa chúng tôi bây giờ mỗi đứa mỗi ngả khắp bốn phương trời nhưng bất kỳ ai đã từ trong cái nôi Don Bosco Trạm Hành bước ra đời đều có chung những đặc điểm:
_ yêu văn nghệ thể thao và yêu vợ nhất trên đời.
_ chịu chơi hết mình nhưng không bao giờ chơi chịu.
_ mang nặng tình nghĩa bạn bè và lòng biết ơn cha thày.
Nếu một ngày nào đó trên đường đời bạn bắt gặp một ai có những nét đặc thù trên thì đích thị hắn là con cái Don Bosco. Hãy đến bắt tay hắn để nối vòng tay lớn thắt chặt tình ái hữu cựu học viên Don Bosco bạn nhé